Đền phủ Đông Trù

Thượng Thanh từ xa xưa nằm trong vùng đất cổ, có lịch sử truyền thống lâu đời. Vùng đất này nằm trên con đường giao thông huyết mạch từ thành Thăng Long lên đến Mục Nam Quan (cửa khẩu biên giới Việt Nam - Trung Quốc).

Thượng Thanh vốn thuộc huyện Gia Lâm trong vùng đất Long Biên. Thời nhà Lý thuộc phủ Thiên Đức. Thời nhà Trần thuộc lộ Bắc Giang. Thời nhà Nguyễn nằm trong trấn Kinh Bắc. Khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Tháng 3 năm 1949, đặc khu Ngọc Thụy và huyện Gia Lâm nhập về tỉnh Hưng Yên. Đến cuối năm 1949, đặc khu Ngọc Thụy nhập với huyện Gia Lâm và trở về trực thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Năm 1955, khu Ngọc Thụy chia tách làm 2 xã : Ngọc Thụy và Thượng Thanh. Thượng Thanh bấy giờ gồm các thôn : Gia Quất Thượng, Thượng Cát, Thanh Am và 2 xóm Đức Hòa (Đức Giang) và Hòa Bình (xóm Đê).

Tới năm 1961, huyện Gia Lâm trở thành một huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội; xã Thượng Thanh thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Năm 2003, xã Thượng Thanh trở thành phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội.

Hiện nay, Đền phủ Đông Trù nằm trên địa bàn phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội. Phường có địa giới: phía bắc giáp sông Đuống, phía nam giáp phường Ngọc Lâm và Gia Thụy, phía đông giáp phường Đức Giang và Việt Hưng, phía tây giáp phường Ngọc Thụy.

Theo hồi ức của nhân dân địa phương, trước đây, đền phủ Đông Trù có quy mô kiến trúc lớn với quy chế của một thiết chế văn hóa thờ Mẫu phổ biến ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đền phủ đã bị thực dân Pháp đốt phá.

Những năm 1999 – 2000, đền được xây dựng lại với kiến trúc, diện mạo như hiện nay. Từ đó đến nay, di tích đã trải qua nhiều lần sửa chữa, tu tạo.

Đền phủ Đông Trù hiện nay có quy mô kiến trúc nhỏ, khiêm tốn ẩn mình trong khu vực cư trú của nhân dân địa phương. Đền được xây dựng theo hướng Tây, bên phải là đê nam sông Đuống. Tính từ ngoài vào, di tích bao gồm cổng gạch nhỏ dẫn vào sân gạch và khu thờ tự.

Kiến trúc đền phủ Đông Trù được bố trí theo chiều ngang với bốn đơn nguyên: Đền mẫu (công đồng), Đền Tứ phủ, nhà lục giác và nhà khách.

Bản thân tên gọi “Đền phủ Đồng Trù” đã cho biết di tích thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh, một nhân vật thần tiên được thờ rất phổ biến ở vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ. Do được thờ ở nhiều nơi nên truyền tích về bà Chúa Liễu được lưu truyền rộng rãi trong dân gian và được ghi chép nhiều trong sử sách.

Tư liệu chữ viết sớm nhất hiện tồn trong Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội là bản chép tay năm Bảo Đại thứ 15 (1940) của bản “Vân Cát Lê gia ngọc phả” do Nguyễn Quốc Trinh biên soạn vào năm Vĩnh Tộ thứ 5 (1623), 11 trang mang ký hiệu A3181. Một bản chép tay khác, 74 trang, ký hiệu A1927, đầu đề “Vân Cát thần sử cổ lục”. Hai tư liệu trên có những thông tin như sau: “Vân Cát Lê gia ngọc phả” chép thủy tổ của bà Liễu Hạnh là Lê Từ Vĩnh, con thứ năm của Lê Bang Cơ (tức Lê Nhân Tông, 1442 - 1454). Vì họ Mạc chiếm ngôi cho nên ông về Vân Cát, lấy bà Trần Thị Thực sinh ra Tư Thắng, Tư Thắng sinh Giáng Hương (tên gọi khác của bà chúa Liễu).

Một tư liệu chữ viết về bà Chúa nổi tiếng khác là Vân Cát thần sử truyện của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), truyện thành viết khoảng 200 năm sau khi công chúa Liễu Hạnh chào đời (1557). Tuy tồn tại nhiều tư liệu chữ viết và truyền thuyết dân gian khác nhau nhưng nội dung cơ bản về vị Thánh Mẫu đều rất giống nhau. Trong sách Vân Cát thần sửa truyện của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, lịch sử Liễu Hạnh được miêu tả như sau:

Họ Lê ở xã Vân Cát, huyện Thiên Bản (huyện Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình) có một trai, một gái. Khi sinh con gái, đạo sĩ đưa hồn Lê thái công lên thiên đình chứng kiến đệ nhị tiên chủ Quỳnh Nương vì lỡ tay đánh rơi vỡ chén ngọc nên bị đầy xuống trần gian. Khi tỉnh lại thì vợ đã sinh ra bé gái nên đặt tên là Giáng Tiên (tiên xuống trần). Giáng Tiên xinh đẹp và giỏi văn chương ca nhạc, hay làm thơ, đánh đàn. Lê thái công cho Giáng Tiên làm con nuôi Trần thái công dòng dõi họ Trần. Giáng Tiên kết hôn với Đào Lang, sinh được một trai, một gái. Năm 21 tuổi, tự nhiên không bệnh tật gì mà hóa vào ngày mồng 3 tháng 3.

Giáng Tiên về trời dự hội Đào Trì được Thượng đế phong Liễu Hạnh công chúa. Luyến tiếc trần gian nên Liễu Hạnh lại xin xuống trần. Được cho phép, Liễu Hạnh bèn xuống trần về làng cũ thăm mẹ, rồi ra kinh đô thăm chồng con, ở lại với chồng đến gần canh năm thì lại ra đi. Liễu Hạnh bắt đầu chu du khắp nơi. Sau khi cha mẹ và chồng qua đời, các con đều đã trưởng thành, Liễu Hạnh lên Lạng Son ở trong chùa, gặp Phùng Khắc Khoan, cùng nhau xướng họa. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan nghe tiếng ngâm họa mà không thấy người, chỉ thấy cây gỗ ngã ngang bên đường có 4 chữ “Mão khẩu công chúa” treo một bảng có chữ “băng mã dĩ tửu”. Phùng Khắc Khoan giải nghĩa thành “Liễu Hạnh công chúa” và “họ Phùng khởi công sửa chùa”. Phùng Khắc Khoan bèn xuất tiền khởi công dựng chùa. Liễu Hạnh đến kinh kỳ và lại cùng Phùng Khắc Khoan xướng họa tại Hồ Tây. Sau lại đến làng Sóc ở Nghệ An, gặp một người thi sinh là kiếp sau của người chồng cũ, lại kết nghĩa vợ chồng, sinh một con trai. Thư sinh thi đỗ làm quan ở Viện Hàn lâm. Liễu Hạnh lại trở về cung trời vì đã mãn hạn tích kỳ (thời hạn bị đày).

Liễu Hạnh về trời, mãn hạn 5 năm công cán lại xin xuống trần. Thượng đế cho đem theo hai cô nương Quế, Thị đến phố Cát tỉnh Thanh Hóa để dạy dân cấy cầy, xây dựng cuộc sống. Tiên chúa thường hiển linh, người lành được phúc, kẻ ác bị tai vạ. Người dân địa phương kính sợ, lập đền thờ phụng. Đến thời Cảnh Trị (1663 - 1671), triều đình cho là yêu quái, sai quân Vũ Lâm cùng thuật sĩ đến tiêu trừ, phá tan đền miếu. Sau cả vùng bị bệnh dịch bèn cầu đảo, Liễu Hạnh hiển linh, đòi khôi phục đền thờ và sẽ ban phúc trừ họa. Dân xin triều đình cho xây lại đền thờ. Vua phong là Mã Hoàng công chúa, về sau, công chúa Liêu Hạnh còn hiển linh giúp vua đánh giặc nên được gia phong chế Thắng Hòa Diệu đại vương, nhân dân địa phương tạc tượng thờ.

Lý giải sự gắn kết của nhân dân địa phương với Mẫu nghi thiên hạ, trên bia đá tại đền khắc ghi sự kiện: “... tại vùng đất Hoa Lâm, vào đêm rằm tháng Tám năm Đinh Tỵ (1557) Tiên chúa cùng các tiên nữ về quay quần bên gốc cây đa, dưới ánh trăng huyền ảo, dân làng cho là kỳ dị bèn lập đền thờ tại nơi này. Đó chính là ngôi đền phủ, nằm bên bờ nam sông Thiên Đức (sông Đuống) nhìn về hướng Tây. Đền xây hình chữ “Đinh”, có 3 ban thờ, chính giữa là Tam tòa Thánh Mẫu, bên trái là ban Trần Triều, bên phải là ban Sơn Trang, vây quanh đền là hàng cây duối, phía xa có ao chúa, vườn hồng.

Đền mẫu có mặt bằng xây dựng hình chữ “Đinh” gồm Tiền tế và Hậu cung. Tiền tế là nếp nhà ngang 3 gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc, tay ngay. Phía trước của hai bức tường hồi xây vượt ra khỏi mái hiên gần 2m. Ngoài cùng của tường hồi xây trụ biểu lớn, đỉnh trụ đắp 4 chim phượng chụm đuôi vào nhau, đầu vươn ra từ 4 góc cột. Bốn ô lồng bên dưới trang trí hoa văn thực vật bằng kỹ thuật đắp nổi.

Bộ khung nhà Tiền tế có kết cấu đơn giản, vì nóc kiểu chồng rường giá chiêng, vì nách là một kẻ cong ngắn, đỡ mái hiên có một kẻ dài. Vì nóc và vì nách đặt trên một quá giang lớn. Toàn bộ các chi tiết của bộ khung gỗ đều được bào trơn, bào soi tạo cảm giác nhẹ nhàng.

 

Nền nhà Tiền tế lát gạch màu đỏ kích thước 30x30cm. Trên tường hồi phần hiên có hai nhân vật canh giữ cửa đền. Tượng đắp dạng phù điêu, y phục võ tướng.

Hậu cung gồm 2 gian nhà dọc nối với gian giữa nhà Tiền tế. Bộ khung đỡ mái được làm theo hai dạng khác nhau: Vì trong cốn ván mê, vì ngoài giá chiêng kẻ chuyền.

Lòng nhà Hậu cung có hệ thống bệ thờ cao dần từ ngoài vào đến sát tường hậu để làm nơi tọa lạc của các vị thần được thờ, phía trên khung nhà bố trí hệ thống đại tự, cửa võng sơn son thếp vàng làm tăng thêm vẻ lộng lẫy, linh thiêng của khu thờ tự.

Ở vị trí quan trọng nhất có ba vị Thánh mẫu: Thượng Thiên – Mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Mẫu Thoải (Tam tòa Thánh mẫu) tọa lạc trong khám lớn chạm rồng, văn mây, văn thực vật. Các vị thánh Mầu được thể hiện ở tư thế ngồi, khuôn mặt tròn đầy, y phục thường thấy của các hoàng hậu trong cung đình. Bên dưới Tam tòa Thánh mẫu có hệ thống các ban thờ Ngũ vị tôn ông, Tứ phủ...

Sát bên phải Hậu cung (đi từ ngoài vào) có hai gian nhỏ xây dọc là khu thờ Đức Trần Triều. Bộ khung đỡ mái có kết cấu đơn giản kiểu kẻ chuyền. Gian trong có bệ thờ cao, chính giữa có Đức Thánh Trần ngồi trên long ngai, hai bên có hai thị giả. Đối diện về bên trong của Hậu cung có một kiến trúc nhỏ tương tự như khu thờ Trần Hưng Đạo là nơi thờ Mẫu Nhạc chi quản 6 cửa rừng. Khu thờ Mẫu Nhạc thể hiện dưới hình thức động sơn trang thường thấy trong các di tích thờ mẫu. Tượng Mẫu Nhạc có kích thước lớn, áo xanh, đặt ở chính giữa lòng động, quây quanh Thánh mẫu có các thị giả, sơn nữ với các nhạc cụ dân tộc trên tay.

Đền thờ Tứ phủ được xây dựng sát bên phải của khu đền Mẫu. Đền tứ phủ có quy mô nhỏ, một nếp nhà ngang 3 gian xây gạch kiêu tường hồi bít đôc, mái lọp ngói ta. Bộ khung gỗ đỡ mái có kết cấu dạng giá chiêng, kẻ chuyền.

Nền đền thờ Tứ phủ lát gạch vuông màu đỏ, gian chính giữa thờ Tứ phủ công đồng (Mẫu Thiên, Mẫu Thoải, Mẫu Nhạc và Mẫu Địa), bên phải thờ bà chúa Thác Bờ, bên trái thờ cô Bơ, cô Chín. Các tượng thánh mẫu trong đền tứ phủ được đặt trang trọng khảm gỗ chạm. Các vị Thánh Mẫu được thể hiện, tạo tác giống nhau, họ chỉ được phân biệt qua màu sắc đỏ, vàng, trắng, xanh rất đặc trưng của mỗi nhân vật.

Theo thông lệ, mỗi năm có 4 vấn chầu, hàng tháng vào ngày sóc vọng, nhân dân địa phương và khách thập phương đến thắp hương, hành lễ. Hàng năm vào ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch, dân làng tổ chức lễ húy nhật Thánh mẫu và thỉnh mời ngài về dự hội làng vào ngày mồng 10 cùng tháng”.

Ngoài Thánh Mẫu Liễu Hạnh, đền phủ Đông Trù còn có sự hiện diện của Đức Thánh Trần – Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một vị anh hùng dân tộc. Ông là vị tướng tài, có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên – Mông của quân dân Đại Việt thế kỷ XIII. Trần Hưng Đạo còn nổi tiếng về tư tưởng lấy dân làm gốc. Câu nói nổi tiếng của ông với vua Trần “Khoan thử sức dân để làm kê sâu rễ bền gốc” vẫn là thượng sách giữ nước từ thời Trần cho tới nay. Trong các di tích thờ mẫu, sự hiện diện của Đức Thánh Trần được chú ý nhiều việc trừ tà sát quỷ, bảo vệ dân lành sau khi Trần Hưng Đạo hiển thánh song sự hiện diện của Đức Thánh Trần còn góp phần khơi dậy, giáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc đối với các thể hệ nhân dân địa phương và khách tham quan.

Bên cạnh nội dung lịch sử, đền phủ Đông Trù còn có dáng vẻ dung dị của kiến trúc dân gian truyền thống. Trong ngôi đền có hệ thống tượng thờ rất phong phú, đa dạng. Các pho tượng được tạo tác tỉ mỉ công phu, mang vẻ đẹp dân dã, trần đầy tính nhân văn vốn có của dân tộc ta.

Hệ thống di vật gỗ của đền rất phong phí như khám thờ, long ngai, cửa võng, đại tự…đã tôn thêm giá trị của di tích. Các di vật này được chạm khắc tinh xảo các đề tài truyền thống. Ngoài giá trị thẩm mỹ, các hiện vật trên là những minh chứng sống động cho khả năng, truyền thống sáng tạo nghệ thuật của cha ông ta. Các hoa văn, đề tài trang trí còn là nguồn tư liệu quý trong việc tìm hiểu về quan niệm, tư tưởng, vũ trụ quan truyền thống.

Di tích Đền phủ Đông Trù chính là một trong 4 di tích lịch sử thuộc phường Thượng Thanh, quận Long Biên, Hà Nội. Năm 2013 đến nay, thể theo nguyện vọng của nhân dân và chỉ đạo của UBND quận Long Biên, UBND phường Thượng Thanh với sự thống nhất, ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân và chính quyền xã Đông Hội, Đông Anh, cấp ủy chi bộ, nhân dân thôn Đông Trù – Đông Hội – Đông Anh, sự chỉ đạo trực tiếp của Phòng VHTT, phòng TNMT quận Long Biên đã cùng với tiểu ban QLDT Đền Phủ lập hồ sơ trình Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố, các cơ quan chưucs năng có liên quan và UBND thành phố Hà Nội công nhận, xếp hạng đối với di tích lịch sử Đền Phủ Đông Trù. Ngày 14/4/2017, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2273/QĐ-UBND Quyết định về việc xếp hạng di tích lịch sử cấp Tỉnh, thành phố đối với Đền Phủ Đông Trù phường Thượng Thanh, quận Long Biên. Ngày 03/6/2017 UBND phường Thượng Thanh đã tổ chức Lễ đón nhận bằng di tích lịch sử Đền Phủ Đông Trù trong niềm hân hoan, vui sướng và tự hào của các cấp, các ngành, chính quyền phường Thượng Thanh, xã Đông Hội cùng với hai giới các cụ và nhân dân thôn Đông Trù – Đông Anh, nhân dân tổ 18 phường Thượng Thanh. Việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích Đền Phủ Đông Trù góp phần giữ gìn di sản do ông cha để lại đồng thời trao truyền và giáo dục về “Chân – Thiện – Mỹ” cho các thế hệ sau thông qua việc tổ chức Lễ húy nhật Thánh Mẫu là vô cùng cần thiết. Hàng năm, UBND phường Thượng Thanh đều tổ chức lễ hội truyền thống Đền Phủ Đông Trù vào ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch để tưởng nhớ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Di tích Đền Phủ Đông Trù không chỉ có giá trị lịch sử to lớn mà còn là một nét đẹp văn hóa tâm linh nơi đây cần được bảo tồn và phát triển.

DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG